Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

Bốn phái chính của Phật giáo Tây Tạng


Ý tưởng cho rằng cả vũ trụ này cùng với sum la vạn tượng trong đó cấu tạo thành một chỉnh thể duy nhất, trong chỉnh thể này ngay cả một yếu tố nhỏ nhất cũng tác động đến cái lớn nhất, vì những sợi dây huyền bí đã kết nối cái nhỏ nhất đó với cái nền tảng vĩnh hằng của vũ trụ, đây là cơ sở thích đáng nhất của tất cả những nền triết học mật tông.



Walt Anderson

Phật giáo Tây Tạng Ấn Độ đã có tính biện giải khi du nhập vào Tây Tạng. Người theo Phật giáo Tây Tạng học hỏi cả hai truyền thống Tiểu thừa và Đại thừa, sử dụng tất cả nguồn tư liệu có được, kể cả kinh tạng và mật tạng có xuất xứ từ rất nhiều bộ phái Phật giáo Tây Tạng. Có thể tìm hiểu thêm phật giáo tây tạng tại https://www.dkn.tv/the-gioi/pha-huy-thanh-dia-phat-giao-tay-tang-va-nhung-cuoc-dan-ap-tin-nguong-tan-ac-trong-lich-su-trung-quoc.html. Người Tây Tạng đã đan kết những sở học này vào trong nền văn hóa của họ, thành lập nên những bộ phái riêng đậm đà hương vị Tây Tạng. Bốn truyền thống lớn xuất hiện để dìu dắt người dân tu tập theo Phật giáo: Ninh-mã (Nyingma), Tát-ca (Sakya ), Ca-nhĩ-cư (Kagyu), và Cách-lỗ (Geluk) [1]

Phái Ninh-mã (Nyingma)

Ninh-mã là bộ phái đầu tiên và thường được gọi là Cổ Mật hay Cổ Phái để phân biệt với ba phái còn lại hay ba Tân Phái. Tân phái dựa trên những bản kinh và những bản chú giải được phiên dịch sau này. Vị tổ khai sáng phái Ninh-mã là Liên Hoa Sanh (Padmasambhava), vị đạo sư Phật giáo Tây Tạng đầu tiên có ảnh hưởng ở Tây Tạng, không chỉ hướng dẫn cho người Tây Tạng biết cách tu tập theo Phật giáo Tây Tạng mà còn truyền bá pháp môn mà Ngài chuyên tu là mật pháp.

Phái Ninh-mã có 9 chi phần mật pháp, được sắp xếp và trao truyền thông qua nghi thức thực hành một số nghi quỷ nhất định: Ba mật pháp phổ thông, ba pháp ngoại mật, và ba pháp nội mật. Đó là những pháp môn dẫn dắt và gia lực hành giả trong tiến trình chuyển hóa và định hướng hành vi, niềm tin, tâm niệm và cảm xúc lên trên những cảnh giới tâm thức cao hơn. Sáu mật pháp đầu tương tự với những bộ phái khác. Ba mật pháp đầu thuộc về Thinh văn thừa, Độc giác thừa và Bồ-tát thừa. Ba pháp ngoại mật là Tantra nghi lễ, Tantra nhật hành, và Tantra thiền định[2]. Ba pháp nội mật là Đại Du-già, Tùy Du-già[3], và Vô thượng Du-già[4]. Ba pháp này giúp cho hành giả nhận ra thật tướng của tâm thức, xuyên phá những diện mạo bên ngoài của thực tại. Qua đó, trí tuệ bừng sáng hướng đến chánh giác. Mục tiêu trở thành đạo lộ, và đạo lộ lại không còn dựa vào những ảnh tướng hay quán tướng nữa.

Phái Ninh-mã chủ trương tịnh hóa tự tâm, chú trọng những trực nghiệm của giây phút hiện tại mà không khái niệm hóa những đối tượng của trực nghiệm. Những khái niệm méo mó, thiên lệch về các hiện tượng được chuyển hóa thành những khái niệm chuẩn xác về thực tướng của hiện tiền. Đó là một nhất thể gồm ánh sáng và sự rỗng lặng, vượt ra khỏi mọi đối nghịch và đối cực, không hề có những phân cắt làm cho người ta u mê, lầm lạc. Giáo lý của phái Ninh-mã được thiết kế nhằm giúp hành giả đạt đến trạng thái tỉnh thức trong đời sống hàng ngày.

Du-già Đạo sư (Guru yoga- Hợp nhất với Tâm Đạo sư) là một pháp môn quan trọng của phái Ninh-mã. Qua đó, hành giả có thể đồng nhất bản thân với vị thánh và thể nhập vào những phẩm tính cao nhất của vị đạo sư và của chư Phật nhiều đời. Những vị thánh của bộ phái là Bồ-tát Phổ Hiền, Đức Phật thời kiếp sơ, Bồ-tát Kim Cang Thủ, hóa thân của Bồ-tát Phổ Hiền.

 Cổ Mật có truyền thống Phục Tàng (Terma)

Phái Ning-mã sử dụng terma[5] (báu vật): Thánh điển, pháp khí và tranh tượng, được vị tổ khai sơn là Liên Hoa Sanh giữ kín. Terma sẽ làm cho đầy đủ và phát huy mạnh hơn nữa những khái niệm và pháp thức của phái Ninh-mã.

Người ta tin rằng những báu vật sẽ được những vị đệ tử tìm thấy và hiển lộ những khi thời gian chín muồi. Vị đệ tử đó có danh hiệu là Khai Phục tàng tertons, là những vị Bồ-tát, hiện thân của ngài Liên Hoa Sanh.

Dakinis, những vị nữ thánh trí sẽ giúp đỡ, dẫn dắt chư vị tertons tìm ra được bảo điển và những báu vật quan trọng. Một khi báu vật được tìm thấy thì vị tertons sẽ truyền thừa giáo pháp. Theo truyền thuyết, nhiều nơi ở Tây Tạng có
termas được giấu kín và được phong tỏa bằng những câu linh chú khiến cho người ta không tìm thấy khi chưa đúng thời. Theo thời gian, những terma được những vị tertons tiếp tục tìm thấy và công bố bằng những chiếc chìa khóa bí mật để khám phá và giảng giải, rồi tái khám phá, tái luận giải cho phù hợp với thời đại và địa phương truyền đạo. Như vậy, giáo lý của phái Ninh-mã tiếp tục phát triển và tiếp tục thích nghi để có thể tiếp tục soi đường dẫn lối cho nhân sinh dù trong thời hiện tại hay tương lai, trong hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác. Terma sẽ được tìm thấy và được truyền bá trong thời gian cần thiết.

Phái Tát-ca (Sakya)

Phái Tát-ca được truyền thừa từ dòng họ Khon, một bộ tộc tuyên xưng là con cháu của tiên nhân. Những người họ Khon là đệ tử của vị đạo sư Du-già Ấn Độ tên là Virupa. Virupa trước tiên dạy cho Drogmi Shakya Yeshe (992 - 1074). Drogmi Shakya Yeshe du hành từ Tây Tạng sang Ấn Độ để học đạo và mang về Tây Tạng những giáo pháp học được từ Virupa như pháp Kalachakra[6], pháp

Lamdrey[7], và pháp của những vị đạo sư Ấn Độ khác. Bộ thánh điển uy tín nhất mà phái này gìn giữ là Kim Cang Chư Kệ Tụng (Vajra Verses) của Virupa. Hầu hết những giáo thuyết trong bộ phái đều được truyền miệng từ thầy sang trò như những truyền thống mật thừa khác.

Khon Koncheck Gyelpo[8], một đệ tử của Virupa thành lập chùa đặt tên là Sakya, có nghĩa là chùa Đất Lam; lam là màu sắc của đất trong tỉnh Tsang, Trung phần Tây Tạng, nơi ngôi chùa tọa lạc. Gyelpo xem đây là một điềm tốt dựa theo hình tượng mà trước đó Atisha đã thiền quán thấy được: màu lam của đất và hai con trâu yaks hoang màu đen đang gặm cỏ bên hiên chùa. Phái Tát-ca theo đó mà đặt tên ngôi chùa, và phái Tát-ca tiếp tục truyền thừa.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét